Nguy cơ vô sinh vì Lao sinh dục ở nam giới

By

Nhiều người thường nghĩ bệnh lý lao chỉ xảy ra ở vùng phổi của con người, nhưng thực chất, ngoài phổi vi khuẩn lao có thể gây bệnh ở những bộ phận khác nhau trên cơ thể con người, trong đó có bộ phận sinh dục. Tổn thương của do vi khuẩn lao gây nên có thể gây tổn thương 1 phần hoặc tất cả bộ phận sinh dục, được gọi là bệnh lý lao sinh dục. Đây là một bệnh lý nguy hiểm, có nguy cơ gây vô sinh cho cả nam và nữ. Lao sinh dục là bệnh lý nhiễm thể lao ngoài phổi thường gặp, bệnh do thể lao di chuyển từ các tổn thương lao đến các các bộ phận khác theo đường di chuyển của các tế bào máu và bạch huyết, phần lớn là bắt đầu từ phổi. Thể lao di chuyển sẽ gây tổn thương đầu tiên đến vỏ thận, sau khi phá hủy vỏ thận thể lao sẽ tiếp tục di chuyển đến các bộ phận khác. Nếu ở vỏ thận xảy ra tình trạng viêm sẽ làm tắc đường lưu thông giữa thận với niệu quản, làm chất bài tiết sẽ bị ức chế ngược dòng, quay ngược trở lại thận, phá hủy thận. Thể lao thường thuận theo đường nước tiểu di chuyển xuống bộ phận tiết niệu, sẽ gây tắc ống tiết niệu, di chuyển xuống bàng quang sẽ hình thành ổ loét ở đó, sau đó di chuyển đến bộ phận tuyến tiền liệt, tinh hoàn gây tắc nghẽn ống dẫn tinh và hình thành bệnh viêm mào tinh hoàn ở nam giới.

Những bộ phận dễ bị lao sinh dục

• Lao dương vật: Đây là bệnh lý do vi khuẩn lao xâm nhập, gây tổn thương đến cậu nhỏ. Nguyên do là vì cậu nhỏ nếu vệ sinh không sạch sẽ hoặc nhiễm trùng do vết thương hở, sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn lao xâm nhập và lây nhiễm, gây nên bệnh lý lao sơ nhiễm tại đây. Lao dương vật có những biểu hiện thường thấy sau: vi khuẩn lao sẽ tạo ổ loét tại miệng vết thương, làm hạch bẹn sưng to. Gây tổn thương đến “cậu nhỏ”. • Lao tinh hoàn: Là tình trạng vi khuẩn lao di chuyển xuống túi tinh, khiến cho túi tinh hoàn trở nên sưng to, có cảm giác đau ít hoặc không cảm thấy đau. Triệu chứng này có điểm tương tự so với viêm tinh hoàn và ung thư tinh hoàn, do đó, nam giới cần phải phân biệt được để không điều trị nhầm bệnh. • Lao ống dẫn tinh, mào tinh: Tại bộ phận này các vi khuẩn lao sẽ làm xuất hiện các vết mụn, loét...những vết này sau khi bị vôi hóa sẽ hình thành sẹo, gây chít hẹp đường ống dẫn tinh và phần mào tinh. Khiến cho khi xuất tinh một phần đường ống dẫn tinh đã bị vết sẹo do tổn thương vì vi khuẩn lao gây ra, khiến cho nam giới có cảm giác đau khi xuất tinh, nếu tổn thương nặng còn thấy máu trong tinh dịch trong khi xuất. Phần mào tinh bị sưng to và gây đau nhức. • Lao màng tinh hoàn Là tình trạng vi khuẩn lao gây tổn thương làm tràn dịch màng tinh hoán. Trường hợp này là tình trạng tinh hoàn sưng to, căng, nặng, không dịch chuyển được, nếu dịch trong đó nhiều thì lúc sờ còn không thể thấy mào tinh. Thực ra, không phải do tinh hoàn tự nhiên to ra mà do vi khuẩn lao tác động làm tràn dịch ở phần bìu. Khi tiến hành chụp X-quang hay rọi đèn pin vào vị trí này mới thấy bóng tinh hoàn xuất hiện. Bệnh lý này thường bị nhầm lẫn với chứng phù da vùng bìu.

Biến chứng của bệnh lao sinh dục

Các bệnh lý lao ở bộ phận sinh dục này nếu không được phát hiện đúng và xử lý kịp thời sẽ tổn thương đến bộ phận sinh dục và chất lượng tinh trùng của nam giới, dẫn đến tình trạng vô sinh. Vì lao sinh dục là là thể lao thứ phát sau thể lao sơ nhiễm nên cần phát hiện sớm để tránh tình trạng thể lao chuyển sang các bộ phận khác gây nguy hiểm hơn, cần phải phát hiện sớm triệu chứng của bệnh. Để chẩn đoán đúng các triệu chứng của bệnh lao, người bệnh phải tiến hành tìm vi khuẩn lao trong tinh dịch, tiến hành chụp X-quang, siêu âm, chụp cắt lớp, nội soi, để xác định đúng xem các triệu chứng có phải do vi khuẩn lao gây ra không. Cần phải cẩn thận tránh tình trạng nhầm lẫn bệnh với các bệnh lý khác hoặc do nguyên nhân ung thư, sau đó mới có phương pháp điều trị thích hợp với bệnh lý đó. Lao sinh dục có thể điều trị bằng phương pháp dùng thuốc uống hoặc phẫu thuật, để loại trừ một phần bộ phận đã bị khuẩn lao làm tổn thương, tránh tình trạng di chuyển sang các bộ phận khác. Điều quan trọng khi tiến hành điều trị là phải phát hiện sớm, chẩn đoán đúng nguyên nhân và tình trạng bệnh, để tránh tình trạng điều trị không đúng bệnh và phẫu thuật cắt bỏ nhầm lẫn đáng tiếc.

Bài viết khác